I. Đặt vấn đề
Kháng sinh beta-lactam, đặc biệt là các penicillin, là nhóm kháng sinh phổ biến được sử dụng do có nhiều ưu điểm về hiệu quả, độ an toàn và phổ tác dụng. Tuy nhiên, đây cũng là nhóm kháng sinh có tỷ lệ dị ứng cao nhất được báo cáo 1,2,3. Theo số liệu tại Mỹ, tỷ lệ dị ứng penicillin dao động khoảng 8-15%. Dù vậy, chỉ có chưa đến 5% trường hợp thật sự là dị ứng Penicillin (nhạy cảm với IgE hoặc Lympho T) 3. Việc chẩn đoán sai về tình trạng dị ứng kháng sinh của bệnh nhân dẫn đến việc bệnh nhân không được sử dụng kháng sinh tối ưu. Hậu quả là bệnh nhân phải sử các kháng sinh khác không hiệu quả bằng, độc tính cao hơn hoặc chi phí điều trị tăng, đồng thời cũng sẽ đối mặt với tình trạng kháng kháng sinh tăng lên 1,2,3. Do đó, cần một phương án để hạn chế chẩn đoán sai tình trạng dị ứng kháng sinh.
II. Nội dung
- Đối với dị ứng Beta-lactam1,2
Quy trình thử dị ứng có kiểm soát (CDCT)
– Thông báo cho bệnh nhân, đồng thời đánh giá xem bệnh nhân có phù hợp để làm thực hiện CDCT hay không.
– CDCT cần được thực hiện tại các cơ sở y tế có khả năng theo dõi và xử trí các phản ứng dị ứng có thể xảy ra và trên các đối tượng bệnh nhân phù hợp.
– Có thể sử dụng phương pháp CDCT liều đơn hoặc CDCT liều tăng dần:
Phương pháp CDCT liều đơn:
+ Sử dụng 100% liều đầy đủ của kháng sinh nghi ngờ.
+ Tốt nhất dùng đường uống, hoặc đường dùng khác (nếu cần).
+ Nếu nghi ngờ dị ứng với penicillin, thường sử dụng amoxicillin 500 mg ở người lớn.
Phương pháp CDCT liều tăng dần:
+ Sử dụng 10% liều kháng sinh nghi ngờ (ví dụ 50 mg amoxicillin ở người lớn) và theo dõi trong 30 phút
+ Tiếp tục cho 50% liều (ví dụ 250 mg amoxicillin) và theo dõi trong 30 phút
+ Đưa phần liều còn lại để đủ 100% liều đầy đủ (ví dụ 200 mg amoxicillin) và theo dõi trong 60 phút
– Nếu triệu chứng nghi phản vệ xuất hiện trong quá trình test, cần xử trí bệnh nhân theo hướng dẫn về xử trí phản vệ.
– Bệnh nhân phải được theo dõi ít nhất 1 giờ sau khi dùng liều cuối cùng.
– Cung cấp hướng dẫn rõ ràng cho bệnh nhân để theo dõi các triệu chứng xuất hiện sau khi xuất bệnh viện.
– Tư vấn bệnh nhân về kết quả test và ý nghĩa của kết quả test.

Hình 1: Đánh giá và quản lý bệnh nhân nghi ngờ dị ứng Beta-lactam1
- Đối với kháng sinh không thuộc nhóm Beta-lactam1,2
Quy trình thử dị ứng giống với Quy trình thử dị ứng có kiểm soát ở mục 1.

Hình 2: Đánh giá và quản lý bệnh nhân nghi ngờ dị ứng kháng sinh không thuộc nhóm Beta-lactam1
- Nguy cơ dị ứng chéo giữa các kháng sinh nhóm Beta-lactam1,2
Có 3 nguy cơ dị ứng chéo được đề cập đến trong bài viết này là: Dị ứng chéo do hình thành phức hợp Peniciloyl-poly-L-Lysin; Do tương đồng các nhóm thế R1, R2 và/hoặc có bằng chứng và có nhóm thế R1, R2 giống nhau.

Hình 3: Nguy cơ dị ứng chéo giữa các kháng sinh nhóm Beta-lactam1
Tài liệu tham khảo
- Trung tâm DI và ADR Quốc gia (2026). ESCMID 2026: Hướng dẫn về đánh giá và quản lý bệnh nhân dị ứng kháng sinh. https://canhgiacduoc.org.vn/ CanhGiacDuoc/DiemTin /5806/esmid-2026-huong-dan-danh-gia-di-ung-khang-sinh.htm
- Oana Joean, Kevin Sermet, Liat Ashkenazi-Hoffnung, et al (2026). ESCMID clinical guidelines on the evaluation and management of a reported antibiotic allergy. Clinical Microbiology and Infection, 32(5), 767-768. https://www.clinicalmicrobiologyandinfection.org/article/S1198-743X(26)00069-8/fulltext
- Erica S. Shenoy, Eric Macy, Theresa Rowe, et al (2019). Evaluation and Management of Penicillin Allergy. Jama Network, 321(2), 188-199. DOI: 10.1001/jama.2018.19283
- José Ramón Paño-Pardo, Esther Moreno Rodilla, Sara Cobo Sacristan, et al (2023). Management of patients with suspected or confirmed antibiotic allergy. Executive summary of guidance from the Spanish Society of Infectious Diseases and Clinical Microbiology (SEIMC), the Spanish Society of Allergy and Clinical Immunology (SEAIC), the Spanish Society of Hospital Pharmacy (SEFH) and the Spanish Society of Intensive Medicine and Coronary Care Units (SEMICYUC). Enfermedades infecciosas y microbiologia clinica, 41(3), 181-186. DOI: 10.1016/j.eimce.2022.08.010