"Sức khỏe của bạn - Trách nhiệm của chúng tôi !""

Tài liệu lưu hành nội bộ. Thông tin cho cán bộ y tế.

DINH DƯỠNG ĐƯỜNG TĨNH MẠCH Ở TRẺ SINH NON

  1. Bắt đầu nuôi dưỡng đường tĩnh mạch (PN):

      Đối với trẻ sinh non, nên bắt đầu nuôi dưỡng qua đường tĩnh mạch càng sớm càng tốt sau khi sinh, lý tưởng nhất là ngay ngày đầu tiên sau sinh. Các mục tiêu ban đầu về thành phần dinh dưỡng được thiết kế nhằm ngăn ngừa tình trạng dị hóa và hạ calci máu. Liều lượng ban đầu chi tiết tại bảng 1:

  • Cung cấp đủ acid amin và năng lượng để ngăn ngừa quá trình dị hóa (tối thiểu 1,5 g protein/kg/ngày và năng lượng từ 30 đến 40 kcal/kg/ngày).
  • Cung cấp đủ calci để ngăn ngừa hạ calci máu (ít nhất 25 mg/kg/ngày).
  • Truyền nhũ tương lipid tĩnh mạch (ILE), bắt đầu từ ngày đầu tiên hoặc ngày thứ hai sau sinh, để ngăn ngừa thiếu hụt acid béo thiết yếu và cung cấp thêm năng lượng.
  1. Điều chỉnh PN tiếp theo:

Thành phần dinh dưỡng trong PN được điều chỉnh nhanh trong 24 đến 48 giờ đầu đời để cung cấp đầy đủ dinh dưỡng nhằm đạt mức tăng cân, tích lũy protein và khoáng hóa xương tối ưu (PN đầy đủ) ( bảng 1 ). Các điều chỉnh bao gồm:

  • Tăng lượng acid amin và năng lượng cung cấp qua đường tĩnh mạch để hỗ trợ sự phát triển; các mục tiêu tối ưu phụ thuộc vào cân nặng khi sinh.
  • Tăng dần liều ILE lên khoảng 2 đến 3 g/kg/ngày, đồng thời điều chỉnh tốc độ truyền để tránh tăng lipid máu và duy trì mức cung cấp năng lượng không phải protein thích hợp.
  • Bổ sung phosphat và tăng nồng độ calci. Để khoáng hóa xương tối ưu, dinh dưỡng tĩnh mạch (PN) cho trẻ sinh non cần có nồng độ calci và phosphat tương đối cao, cũng như tỷ lệ calci:phosphat khoảng 1,7:1. Tuy nhiên, việc đạt được mục tiêu này bị hạn chế bởi các vấn đề liên quan đến phối hợp hỗn hợp PN, đặc biệt là tránh tạo kết tủa calci/phosphat, vì các kết tủa này có thể gây thuyên tắc phổi.
  • Điều chỉnh tốc độ truyền glucose khi cần thiết để duy trì glucose máu toàn phần trong khoảng mục tiêu. Nếu điều này làm cản trở đạt mục tiêu về năng lượng từ hai đến ba ngày, nên cân nhắc truyền insulin.
  1. Tăng dần lượng nuôi dưỡng:

      Dinh dưỡng qua đường tiêu hóa (lý tưởng nhất là sữa mẹ) nên được bắt đầu từ ngày đầu tiên sau sinh với thể tích thấp (nuôi dưỡng tối thiểu, 20 mL/kg/ngày), sau đó tăng dần lượng nuôi dưỡng đồng thời giảm dần dinh dưỡng đường tĩnh mạch (PN). Mục tiêu đạt nuôi dưỡng hoàn toàn là 160 mL/kg/ngày sữa mẹ tăng cường hoặc sữa công thức dành cho trẻ sinh non.

  1. Theo dõi xét nghiệm:

      Cần theo dõi các xét nghiệm để điều chỉnh thành phần của dinh dưỡng đường tĩnh mạch (PN), nhằm tránh tình trạng cung cấp thừa hoặc thiếu bất kỳ chất dinh dưỡng nào, đồng thời theo dõi các biến chứng liên quan đến dinh dưỡng đường tĩnh mạch.

  1. Tác dụng phụ:

      Các tác dụng phụ của dinh dưỡng đường tĩnh mạch bao gồm tăng đường huyết, tăng lipid máu, nhiễm trùng đường truyền và nhiễm trùng huyết. Việc sử dụng kéo dài nhũ tương lipid tiêm truyền có nguồn gốc từ đậu nành ở trẻ sinh non có liên quan đến sự phát triển của bệnh gan ứ mật. Đối với trẻ sơ sinh mắc bệnh gan, các chiến lược bao gồm hạn chế tổng lượng lipid tiêm tĩnh mạch và sử dụng các dạng ILE thay thế.

Để giảm nguy cơ gây độc cho gan, các dạng ILE thay thế đã được phát triển, bao gồm nhũ tương lipid dầu cá (Omegaven) hoặc hỗn hợp nhũ tương lipid đậu nành, triglyceride chuỗi trung bình, dầu ô liu và dầu cá (Smoflipid).

Bảng 1. Khuyến cáo lượng cung cấp các chất dinh dưỡng trong nuôi dưỡng đường tĩnh mạch giai đoạn sớm (lượng ban đầu) và giai đoạn ‘hoàn toàn’ (lượng mục tiêu) ở trẻ sinh non

Thành phần Lượng ban đầu Lượng mục tiêu
Tổng năng lượng 45 – 60 kcal/kg/ngày [1] 80 – 90 kcal/kg/ngày* [1]
Năng lượng phi protein 35 – 45 kcal/kg/ngày >65 kcal/kg/ngày
Acid amin 1,5 – 2,5 g/kg/ngày [1]

HOẶC

2 g/kg/ngày [2]

2,5 – 3,5 g/kg/ngày [1,3]

HOẶC

Liều lượng dựa trên cân nặng:

  • Cân nặng <1000 g: 2,5 – 3,5 g/kg/ngày ¶ [3]
  • 1000g≤Cân nặng<1500g: 3,0 – 3,5 g/kg/ngày [1,4]
  • 1500g≤Cân nặng ≤  2000 g: 3 g/kg/ngày [1]
Lipid (Chất béo) 0 – 1 g/kg/ngày. 2 – 3 g/kg/ngày [5]
Calci 25 – 40 mg/kg/ngày [5]

HOẶC

30 – 50 mg/kg/ngày [2]

65 – 100 mg/kg/ngày [5]
Phospho Không có 50 – 80 mg/kg/ngày
Natri Không có

HOẶC

2 – 4 mEq/kg/ngày [2]

69 – 115 mg/kg/ngày [6]

HOẶC

3 – 5 mEq/kg/ngày [6]

Kali Không có

HOẶC

2 – 4 mEq/kg/ngày [2]

78 – 117 mg/kg/ngày [6]

HOẶC

2 – 3 mEq/kg/ngày [6]

Magnesi 0 – 3 mg/kg/ngày [5] 7 – 10 mg/kg/ngày [5]

HOẶC

4,3 – 7,2 mg/kg/ngày [2]

Sắt Không có 0,0 – 0,25 mg/kg/ngày [5]
Kẽm Không có 0,4 mg/kg/ngày [5]
Đồng Không có 40 mcg/kg/ngày [5]

HOẶC

20 mcg/kg/ngày [7]

Selen Không có 1,5 – 4,5 mcg/kg/ngày [6]
Mangan Không có 1 mcg/kg/ngày [5]
Crom Không có 0,05 – 0,3 mcg/kg/ngày [5]
Carnitine Không có 10 mg/kg/ngày [2]

HOẶC

2,9 mg/kg/ngày [7]

Vitamin A Không có 700 – 1500 IU/kg/ngày [6]
Vitamin C Không có 15 – 25 mg/kg/ngày [7]
Vitamin D Không có 40 – 160 IU/kg/ngày [6]
Vitamin E Không có 2,8 – 3,5 IU/kg/ngày [6]
Vitamin K Không có 10 mcg/kg/ngày [6]
Vitamin B1 (thiamine) Không có 200 – 350 mcg/kg/ngày [6]
Vitamin B2 (riboflavin) Không có 150 – 200 mcg/kg/ngày [6]
Vitamin B3 (niacin) Không có 4,0 – 6,8 mg/kg/ngày [6]
Vitamin B5 (pantothenate) Không có 1 – 2 mg/kg/ngày [7]
Vitamin B6 (pyridoxine) Không có 150 – 200 mcg/kg/ngày [6]
Vitamin B7 (biotin) Không có 5 – 8 mcg/kg/ngày [7]
Vitamin B9 (axit folic) Không có 56 mcg/kg/ngày [6]
Vitamin B12 (cobalamin) Không có 0,3 mcg/kg/ngày [6]

 

IU: đơn vị quốc tế.

* Mặc dù các hướng dẫn truyền thống cho phép mục tiêu cao hơn đối với tổng năng lượng (ví dụ: lên đến 115 kcal/kg/ngày) [1] , nhưng mục tiêu này thường không thể đạt được chỉ bằng dinh dưỡng đường tĩnh mạch đơn thuần và có thể không dung nạp. Tuy nhiên, các mục tiêu cao hơn đối với tổng lượng năng lượng nạp vào (kết hợp đường tĩnh mạch và đường tiêu hóa) là phù hợp khi dinh dưỡng đường tiêu hóa được nâng cao vì 100% lượng calo đường tĩnh mạch có thể được chuyển hóa, trong khi tỷ lệ calo từ đường tiêu hóa có thể được trẻ sơ sinh hấp thụ thấp hơn. Một quy tắc chung hợp lý là 120 kcal/kg/ngày được cung cấp qua đường tiêu hóa tương đương với 80 đến 90 kcal/kg/ngày được cung cấp qua đường tĩnh mạch.

¶ Đối với trẻ sơ sinh có cân nặng cực thấp (<1000 g), một thử nghiệm ngẫu nhiên cho thấy trẻ sơ sinh có lượng acid amin nạp vào khoảng 2,5 g/kg/ngày trong 5 ngày đầu đời có kết quả phát triển thần kinh tốt hơn so với lượng acid amin nạp vào cao hơn (3,5 g/kg/ngày) [3] . Sau 5 ngày đầu đời, hầu hết các hướng dẫn đều khuyến nghị lượng acid amin nạp vào cao hơn (ví dụ: 3,5 g/kg/ngày) [4]

Tài liệu tham khảo:

  1. Koletzko B, Wieczorek S, Cheah FC, et al. Recommended Nutrient Intake Levels for Preterm Infants. World Rev Nutr Diet 2021; 122:191.
  2. Tellier B, Silverman S. Prematurity. In: Manual of Pediatric Nutrition 5th ed, Sonneville K, Duggan C (Eds), People’s Medical Publishing House 2014.
  3. Bloomfield FH, Jiang Y, Harding JE, et al. Early Amino Acids in Extremely Preterm Infants and Neurodisability at 2 Years. N Engl J Med 2022; 387:1661.
  4. van Goudoever JB, Carnielli V, Darmaun D, et al. ESPGHAN/ESPEN/ESPR/CSPEN guidelines on pediatric parenteral nutrition: Amino acids. Clin Nutr 2018; 37:2315
  5. Nutritional Care of Preterm Infants: Scientific Basis and Practical Guidelines, Koletzko B, Poindexter B, Uaay R (Eds), Karger 2014.
  6. Schanler RJ, Anderson D. The low birth-weight infant: Inpatient care. In: Nutrition in Pediatrics, 4th ed, Duggan C, Watkins JB, Walker WA (Eds), BC Decker 2008.
  7. AAP Committee on Nutrition. Pediatric Nutrition, 8th ed, Kleinman RE, Greer FR (Eds) American Academy of Pediatrics 2019.
  8. Parenteral nutrition in premature infants, Jun 24, 2026.
Facebook
X
Email

Thông tin thuốc mới